Tiệm ăn Lạc Thành  - Lời Mạ dặn

 

Quế Chi

 

             Mạ tôi  về làm vợ ba tôi lúc mới 19 tuổi, khi vừa về lại quê hương sau 5 năm làm con nuôi ,theo bà dì lấy  chồng Pháp , nhưng vì nhớ nhà,nhớ cha mẹ, nhớ làng quán quê hương nên nhất quyết đòi về, dì cản không được..Về VN ít lâu , mạ tôi được không biết bao nhiêu là vương tôn, công tử nhà giàu có ,ruộng vườn vàng bạc không biết bao nhiêu mà kể , theo đuổi, săn đón mong được người đẹp ở bên Tây về nâng khăn sửa túị.   Mà mạ tôi đẹp thiệt,chừ ngồi xem lại những hình ảnh cũ trong mấy cuốn album vàng ố màu thời gian , tôi thấy mạ tôi đẹp không thua chi các tài tử trong các phim câm của Tây Phương hồi đó.Tuổi 19 tràn đầy sinh lực lại sống ở xứ lạnh giàu sang ,sung sướng cho nên mạ tôi trông giống như cô đầm non vậy, Rứa mà lại không ưa ông nhà giàu, ông quan quyền mô hết mà lại tình nguyện lấy ba tôi nghèo xác nghèo xơ, nhưng kể ra Ba tôi cũng có lợi thế là rất đẹp trai.Chàng và nàng mê đắm trong vòng tay nhau đến nay cũng được 70 năm rồi. Chàng năm ni 88, nàng 87 và  10 đứa con 6 trai 4 gái, thằng đầu 65 tuổi ,đã có cháu nội ngoại ,và thằng út cũng đã gần 50 cũng sắp có dâu có rễ. Rứa mà ba mạ tôi vẫn anh anh em em ngọt xớt. Mỗi lần ba tôi gọi em ơi là mạ tôi tức thì Dạ thiệt to và mau mắn chạy lại ngay xem thử ba tôi muốn nói hay sai bảo làm cái chi ??? ...và anh em bọn tôi bấm nhau cười rúc rích, đôi lúc còn chọc :" Ba Mạ tình chưa tề !!!" Ba tôi cũng tiếu lâm có hạng lắm!!! Có lần một người bạn ba tôi gọi vợ " Mình ơi " thì ba tôi liền nói :" Nì anh cần cái mình thôi chơ không cần cái đầu à ??"....

 

             Kể từ khi qúan ăn qua tay ba mạ tôi điều hành thì phát đạt hẳn lên, không những khách nghèo thương Mệ tôi lai vảng mà các công tư chức, thầy thông thầy ký bên Toà Khâm hay trong Lục Bộ đều ghé lạị Một phần tình hình an ninh khá ổn định, thành phố Huế bắt đầu phát triển khi dân miền quê phụ cận đổ về lập nghiệp càng ngày càng đông. Chính quyền bắt đầu hình thành và thiết lập các cơ sở hành chính ,quân sự nên nhân viên và gia đình đều kéo nhau vô Thành Nội,Kim Long,  An Cựu để cư ngụ và làm việc...Con đường Thượng Tứ nối liền khu phố xá thương mãi với khu hành chánh nên trở thành con đường huyết mạch, sầm uất.

 

             Mặt khác là vì mạ tôi có khiếu nấu ăn ngon,lại thêm được ở mấy năm bên Tây ,học được nhiều cách nấu nhièu món ăn tây lạ miệng, biết làm bánh tây  , biết cách pha chế, hòa hợp hương vị đông tây nên được khách sành ăn ưa chuộng. Từ khi hồi cư năm 1947, ba tôi đặt tên tiệm là Tiệm Ăn Lạc Thành . Thường thường sau khi người ta xây dựng một công trình chi hoàn tất, người ta làm một cái lễ cảm tạ đất trời ( hoàng thiên,hậu thổ) đã phò trợ cho công trình được viên mãn, thành công vui vẻ gọi là Lễ Lạc Thành. Sau đó ba tôi lại mở thêm nhà máy làm nước đá kem cây  mang cùng tên hiệu ( phía sau nhà ,hướng Hậu Bổ). Những bà con ở Huế trong những năm 50 chắc ai cũng còn nhớ Hãng kem cây Lạc Thành Thượng Tứ, Hãng  kem cây Thanh  Quỳnh ở bên cạnh hãng nước Chanh chai  Anna ở đường Trần Hưng Đạo mà các em bé 13,14 tuổi mang từng thùng thermos ( thường gọi là phích cà rem) mang trên vai , bán khắp trường học, chợ búa trong thành phố và vùng phụ cận. Có lần năm 1951 (?) đang học lớp Nhất với thầy Tiếu ở trường Thượng Tứ, trong giờ ra chơi, cậu Công tử bột  Nam Em ( tên ở nhà, ông anh tôi tên là Nam Anh ) đã chơi ngông, kêu một chú bán cà rem cây vô sân trường đãi hết các bạn cùng lớp rồi bảo hắn về nói với Mợ ( Mạ Tôi) là anh Nam Em  đãi bạn ăn hết 30 cây cà rem trong phích  rồi, sắp phích khác ,đi bán lại...

 

       Con đường Thượng Tứ chỉ là một đoạn đường ngắn kể từ ngã ba Thương Bạc vô đến Cầu vồng bắc qua Hồ sen trước cửa Thượng Tứ( tên chính thức là cửa Đông Nam). Ngày trước có tên là Rue de la Citadelle,đoạn phía trong cửa Thượng Tứ gọi là Đường Hộ Thành, rồi thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cọng Hòa đổi  là Đường Đinh Bộ Lĩnh ,ngày nay (sau 1975) gọi là Đinh Tiên Hoàng, từ Thương Bạc cho tới Cầu Kho( Mang Cá).Từ những năm đầu 50 , không kể những qúan ăn nhỏ hoặc các quán bán đặc sản như Cháu Bò Tái ( Năm Dê Bảy Bò) ,Cháo lòng Đồng Ý  ở Ngã Giữa, Quán thịt Lươn Lưu Hương ở Hộ Thành, Phở Bắc ở Bến xe Nguyễn Hoàng- Cửa Ngăn, tiệm ăn Lưu Khách trước mặt Bưu Điện .v.v thì ở Huế có 3 tiệm ăn lớn nhất và nổi tiếng nhất là Khê Ký ở Ngã ba cầu Gia Hội, Quốc Tế ở đường Ngã giữa và Tiệm Lạc Thành ở Cửa Thượng Tứ. Tất cả các cơ quan công quyền, quân đội hoặc dân chúng ,có lễ lạc hay tiệc mừng Tổng Kết, Tất Niên, Tân Niên chi, cần chiêu đãi hàng chục hay cả trăm thực khách  cũng đều chọn một trong ba tiệm ăn kể trên để đặt tiệc tùng...Hai tiệm tê của người Tàu chỉ có tiệm Lạc Thành là của người Huế chính cống. Lần lượt hai tiệm  người Tàu đóng cửa chỉ còn Tiệm Lạc Thành cầm cự cho đến năm 1967. Tiệm có 3 đầu bếp  với thực đơn gồm những món ăn nổi tiếng và đặc thù của  ba dân tộc  Việt -Tây- Tàu .Có một điều đặc biệt cần nhắc nhở là ngoài những món ăn ngon như các tiệm ăn nổi tiếng khác, Tiệm Lạc Thành lại có ba món ăn tráng miệng độc đáo mà bà con khắp năm châu bốn biển vẫn còn nhắc nhở là Chè Đậu Xanh Đánh, Chè Hột Sen và Kem  Flanc ( Bánh kem sữa) . Năm 1991, khi vừa mới qua Mỹ, ông bạn cũ, nhà thơ  Kiêm Thêm dẫn đi thăm phố Bolsa ở Little Saigon , tình cờ được gặp nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ ( chừ đã là ...cố), bạn Thêm giới thiệu con ông chủ Tiệm ăn Lạc Thành  thì  nhạc sĩ họ Hoàng buột miệng :" Chà , mấy chục năm rồi mà đi mô cũng nhớ và thèm chè hạt sen, chè đậu xanh đánh tiệm Lạc Thành Thượng Tứ".

 

             Sau 20 năm làm ăn sinh sống , với hai bàn tay trắng , ba mạ tôi đã tạo được một sự nghiệp ( tài sản) khá lớn lao nhưng rồi trời cho mỗi người một lúc.Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời và chuyện chi cũng có hồi kết thúc . Tiệm ăn Lạc Thành tồn tại đúng 20 năm kể từ ngày đặt tên năm 1947 và đến năm 1967 thì chính thức ngưng bán thức ăn mà đổi sang kinh doanh bán sĩ và đổi Bia & Nước Ngọt do mạ tôi quản lý, còn ba tôi thì nghiệp chưa dứt nên cùng với ba người bạn vong niên  thành lập Công Ty Hương Giang, đấu thầu vối Toà Tỉnh Thừa Thiên để khai thác Khách Sạn Hương Giang cho đến ngày Miền nam sập tiệm thì ba tôi và công ty cũng sập tiệm luôn.

 

       Hai mươi năm làm việc ,trong đời ba mạ tôi có nhiều thành công và cũng lắm thất bạị Ba tôi đã nếm đủ muì vinh nhục nhưng ba tôi còn có đi đây đi đó ,còn có ăn chơi, còn  hưởng thụ: Nay Sàigòn mai Hà Nội, và sau này là Saigon, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang.v.v Riêng Mạ tôi  là người không biết thú vui nào khác ngoài thú vui làm việc : coi sóc tiệm, nấu món ngon vật lạ cho chồng con ăn rồi đứng nhìn. Có hỏi thì trả lời mạ thấy mấy cha con ăn ngon, ăn hết là mạ vui, mạ no rồi. Ma. tôi không biết đến xinê, hát bội, cải lương chi hết, không muốn đi mô hết ngoài chuyện làm việc và đếm tiền. Thậm chí nhiều khi có các đoàn Ca Kịc h, Cải Lương nổi tiếng ở Saigòn ra Huế hát n gười ta đưa vé mời mà mạ tôi cũng nhất quyết ở nhà cho mấy cha con đi.Ma. tôi chỉ biết kiếm tiền, mua nhà mua cửa , tạo sư, nghiệp cho chồng ,cho con ăn học là mạ tôi hoàn toàn thỏa mãn.

 

              Nhớ một buổi chiều nọ hơn 50 năm trước ( 1950 hay 51 ???) cả nhà ngạc nhiên khi thấy ba tôi lái về nhà một chiếc xe bóng loáng , màu xám tro, mui trần (décapotable), hiệu Peugeot 203. Hỏi ra thì ba tôi vưa mới mua của ông Đại Úy Nguyễn Ngọc Lễ , Chỉ Huy Trưởng Việt Binh Đoàn đóng ở trong Trường Quốc Tử Giám. Sau này là Trung Tướng Nguyễn Ngọc Lễ Trong Quân Đội VNCH thời ông Tổng Thống Ngô Đình Diê.m. Đây là chiếc xe ông Đại Úy Chỉ Huy Trưởng dùng để đi duyệt binh chào cờ trước Phu Văn Lâu mỗi sáng thứ hai.  Năm 1952 khi vào học Đệ Thất ở Trường Việt Anh( sau này là Nguyễn Tri Phương), tôi được tài xế lái đi học cùng với cô em học ở trường Jeanne D'Arc  sau lưng lầu ông Năm gần đó. Những năm tiếp theo ba tôi lại mua thêm 3,4 chiếc xe nữa cũng hiệu Peugeot, hay Vedette và Citroen v.v. để cho thuê, đám hỏi , đám cưới hay cho những bà con có công chuyện cần đi Đà Nẵng vì lúc đó phương tiện giao thông Huế Đà Nẵng chỉ có đường bộ ,đường Hỏa xa  đã bi.phá hủy nhiều đọan không xử dụng được nữa...Ba tôi đúng là một tay thương gia , có nhiều sáng kiến và mau chóng nắm bắt các cơ hội kinh doanh .  Đang mở tiệm ăn phát đạt, đi Saigòn về là mở thêm chuyện bán buôn dĩa hát Tân Cổ Nhạc và máy hát quay tay hiệu con chó ngồi nhìn cái loa ( La Voix de son maitre)  đầu tiên trong thành phố những năm đó.

 

             Tôi còn nhớ diã 78 vòng tua ( tours) nặng trình trịch đầu tiên là dĩa hiệu Béka, sau đó là Oria và về sau mới là dĩa Asia.  Đến khi đổi qua dĩa 33 vòng và 45 vòng thì lại hãng diã Việt nam độc quyền. Những ngày nghỉ học hoặc những khi không có bài tập làm ở nhà là tôi đều ra giúp ba tôi quay dĩa bỏ nhạc cho khách nghe, thành ra suốt ngày nghe hết tân nhạc thì lại đến Vọng Cổ,Xàng Xê, Lưu Thủy, Bình Bán,Tứ Đại Cảnh, Hò Mái Nhì , Mái Đẩy chi cũng có đủ cả...Không kể chuyện Tân Nhạc vì dù răng cũng quen thuộc hơn tuồng tích Cải Lương và Vọng Cổ, suốt ngày suốt tháng nghe hoài nên thuộc nằm lòng khi mô cũng không biết nữạ.  Mà kể ra tuồng tích cũng hấp dẫn lắm nên dân Huế mê Cải Lương cũng nhiều, thành ra cửa hàng cũng phát đạt một thờị. Có những tuồng rất hay rất nổi tiếng như: Khi người Điên biết Yêu, Tô Ánh Nguyệt, Dưới bóng Quốc Kỳ, Ngày về Cố Quận, Hoa Rơi Cửa Phật, San Hậu, Mổ Tim Tỷ Can...v.v nổi tiếng nhờ các tài danh nam nữ như Cô Năm Sadec, Cô Năm Phỉ, Cô Tư Sa.ng., Cô Ba Trà Vinh,Cô Bảy Phùng Há hay kép Út Trà Ôn, Kép Tám Thưa, Kép Ba Vân, Kép Thành Công,Kép Bảy Cao, Kép Minh Chí v.v. ...

       Đến nay đã hơn 50 năm qua mà tôi không những nhớ không sót một tên mà còn thuộc nằm lòng một số lờ i ca trong các vở tuồng đó nữa. Nếu các bạn mà thấy văn tôi sặc mùi cải lương thì cũng đừng lấy làm lạ, gần mực hay đèn chi cũng có đôi phần ảnh hưởng mà. Mời qúy vị cùng tôi ngâm nga mấy câu trong Hoa Rơi cửa Phật ( hay còn gọi tắt là Lan và Điệp):

 

             Chính giữa cái mã cao,

             Hai bên cái mã thấp,

             Chú ấy đem chôn lấp

             Xác bướm với cành lan

             Bướm hoa lan đã tàn

             Con dao tây chặn ngang

             Thật rõ ...ràng nào ....sai  ư...ư...   

    Em Lan ơ i chơ tội tình chi mà em phải đa.....dới ...đài ( đọa với đày--đdèn đỏ bật lên ).

 

Hay là để nhớ Út Trà Ôn thì ca một câu vọng cổ ""Sầu Vương Biên Ải":

 

Ôi nhìn trời hiu quạnh màn đêm sương gió lạnh,

Nhớ quê nhà lòng thêm chạnh tủi niềm riêng ?.

Em Lan ơi muôn dặm xa xăm xin em giữ trọn hương nguyền

Để cho người cô lữ khỏi phải mang niềm tủi hận

Thâu canh trường ngơ ngẩn, nhìn ánh sao khuya rơi lặng lẽ giữa đêm . . . trường.

Cảnh dật (vật) mơ say giấc điệp dưới trời sương ư. . . ư. . .

 

Nhớ kép độc Ba Vân hay Minh Chí thì phải ca một đọan xàng xê sở trường:"

 

Lòng ta rất đau đớn,

Nhìn non nước nguy biến,

Muôn dân đành lâm nàn

Dà từ đây Bồ Đào ta,

đầy lầm than

----

Trời cao đã xui khiến

ra tai biến

phải đâu dì Phụ hòang

Xin Cha chớ nặng nơ......Lo....Sầu !!!( đèn đỏ)...

 

Ngâm nga để rồi cười tủm tỉm một mình mà bỗng chốc thấy mằn mặn ở đầu môi vì xúc động nhớ thương quê hương chừ đà qúa xa  tóc mình thì đã bạc trắng ,biết có còn hơi sức để về gặp được ba ma.đã già hung,  lần cuối, trước khi vĩnh viễn rời xa không ???  như nhà thơ Kiêm Thêm đã từng lo lắng:"

 

      Chân đã mỏi bởi dặm trường phiêu bạt

       Liệu tôi còn hơi sức trở về không ?

       Liệu tôi còn cố lết tới chấn song

       Nói rất khẻ:" Con đã về đây... Mẹ"

 

……Còn Tiếp