Lời thưa trước:

 

     Những dòng hồi ức dưới đây viết theo trí nhớ nhạt nhòa của một kẻ tha hương thương nhớ quay quắt về thôn xóm cũ  hơn  năm mươi năm về trước. Năm mươi năm là một nửa thế kỷ, một thời gian dài của một đời người ngắn ngủi với bao biến cố lớn lao và ướt đẩm đau thương trên toàn đất nước, đã tác động dữ dội trên từng thân phận của mỗi con người chúng ta. Tuổi tác chồng chất mà vẫn còn ngụp lặn mưu sinh trên xứ người, nên quên quên nhớ nhớ, nửa tỉnh nửa mê. Rứa thì làm răng mà không có sai lầm hay thiếu sót nhất là qua cái nhìn phiến diện và chủ quan cùng sự hiểu biết hạn chế của một người khi kể lại chuyện ngày xưa....còn thò lò mũi xanh ???

 

             Điều xin thưa trước là những đại danh từ như Ông- Bà, Thầy -Cô,Anh -Chị, Thằng - Con  được dùng trong  hồi ức này là những chữ được dùng trong hoàn cảnh và thời gian đó chứ người viết không có một hàm ý phân biệt, khinh, trọng nào khác. Những Ông Bà thì giờ đây nếu không gần trăm tuổi thì cũng đã ra người thiên cổ. Những Anh Chị  ra đi rong chơi cõi khác cũng đã nhiều, mà  người còn lại thì cũng đã lưu lạc bốn phương tám hướng và cũng đang lần hồi gần đất xa trờị.  Còn những Thằng,những Con  mà nếu còn tiếp tục sống trả nợ đời thì ít ra cũng trên 60 cả.

 

             Tôi chỉ là  một người xa quê, nhớ nhà, kể chuyện xóm tôi với trí nhớ mỏi mòn  những kỷ niệm tàn phaị, tôi cố gắng giữ tâm hồn trong sáng,vô tư ghi lại những sự việc và  bà con trong xóm Thượng Tứ- Bờ Hồ Thượng Tứ và Hậu Bổ một cách trung thực theo như tôi đã biết. Thế nên, nếu có điều chi  không hoàn toàn chính xác thì tôi xin  hoàn toàn nhận lỗi và xin bà con tha thứ sự vô tình chớ tôi không có ý xúc phạm bà con nào trong xóm cũ thương yêu cả.

                                                                               Thằng Nam Em-

                                                               Con Anh Chị Lạc Thành Thượng Tứ

 

 

        Chuyện Ngày Xưa .....nhớ nhớ, quên quên…

              Viết tặng Thái Kim Lan  và các bạn ngày xưa thuở học trò

                                                                         Quế Chi

 

      1.  Hồi cư - Tôi đi học

            

       Khi cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ  và lan đến thành phố Huế thì tôi lên  sáu. Cái tuổi chưa đủ trí khôn để ghi nhận những sự việc xảy ra chung quanh.Tôi chỉ nhớ mù mờ là cả nhà tôi, hình như tất cả là 9 người gồm Mệ Nội tôi, Ba Mạ tôi, hai bà O ruột và bốn anh em trai tôi là anh Đàng 7 tuổi, tôi 6, em Xứng 2  hay 3 (?) và em Xuân vừa được  4 hay 5 tháng (?) tuổị.

 

       Ba mạ tôi thuê một chiếc đò dọc, cập bến Thương bạc chở cả nhà .....đi chạy giặc. Đò ngược giòng Hương, ra khỏi thành Phố Huế,  về hướng Kẻ Vạn, Chợ Thông  để tránh bom đạn khi hai bên giao tranh gìanh chiếm giữ thành phố Huế.  Rời sông lớn, đò len lỏi qua các khe, hói cạn, đôi khi các người lớn trên đò phải nhảy xuống nước đẩy và khi nhảy lên đò là phải ngồi gỡ mấy con đĩa mập ú vì no máu. Cuối cùng thì đò cũng đến được vùng chùa Trúc Lâm nơi ba tôi có người bà con, có hai người con trai tên Bính và Trình, để xin tạm trú một thời gian ngắn rồi trở về tiếp tục làm ăn. Nhưng  ngày tháng trôi qua mà gạo cơm, tiền bạc mang theo cạn dần, ba mạ tôi và mấy người lớn vô cùng lo lắng , còn bốn anh em tôi thì hoàn toàn không biết chi .Cứ tự nhiên ăn ngủ ,theo mấy đứa con nít bà con trong xóm đi chơi, bắt chuồn chuồn, đào trùn cho mấy thằng lớn hơn đi câu cá.

 

       Tôi nhớ có một lần, dọn lên bàn một nồi cơm và mấy trái mít dái (mít nhỏ như hòn bi), hình như người ta còn kêu là mít Tố Nữ (?) và một dĩa muối.  Mệ tôi và hai bà O  và Ba Mạ tôi đều nói mệt không ăn cơm  để cho 3 đứa hắn ăn. Mệ tôi bắt mạ tôi phải ăn để có sữa cho thằng Cu bú. Cuối cùng mạ tôi ăn cơm cháy với muối tiêụ. 

 

Sáng hôm sau Ba Mạ tôi quyết định trở về dù cho không biết tin tức chi dưới Huế cả. Phải về không thì chết đói cả nhà.  Đò ra tới sông lớn thì  gặp nhiều đò những người quen biết khác ai ai cũng đang trở về phố, ai còn gạo cơm mắm muối chi cũng chia cho nhau ăn một bữa đỡ đói cái đã. Từ bến Thương Bạc nhìn về cầu Trường Tiền, một vài  cầu chúi  nhủi như một chữ V  ở giữa  giòng sông. Hàng cây bút bút  sum sê  trên đường, già cỗi xác xơ, gãy cành ngổn ngang  khắp lối…  Mọi người  vạch cành rẽ lá mà tìm đường về nhà mình. Từ đó ,cuộc sống dần dần ổn đi.nh. Người ta bắt đầu mua mua bán đi lại hỏi han nhau, ai còn ai mất, ai đi theo kháng chiến không về.  Vì lam sơn chướng khí lại thêm thiếu sửa thiếu ăn ,thời đó lại không có thuốc men và thầy thuốc giỏi nên em Xuân của tôi chết vì cái bệnh... lúc đó gọi là lạm ghẻ....

 

             Mệ tôi và Ba Mạ tôi  mở lại qúan cơm , bán cháo bán bún chi đó tôi không nhớ rõ và một buổi sáng muà thu năm 1947, ba tôi hai tay dắt anh tôi và tôi đi học chữ. 

 

Nhà văn Thanh Tịnh đã viết một đọan văn bất hủ ,kể lại ngày đầu tiên được mẹ dắt đi học: 

           "  Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp......." mà bọn học trò lứa chúng tôi đứa mô cũng thuộc nằm lòng mà cho đến 50, 60 năm sau cũng chẳng hề quên.

 

             Ba tôi cũng đã cầm hai tay hai đứa con trai đầu lòng là Anh tôi và tôi đi đến trường trong một sớm mùa thu gió lạnh như vậy, nhưng không phải đi qua một con đường làng dài và hẹp mà lại đi vào cửa Thượng Tứ  âm u  và sâu hun hút.Chúng tôi ngây thơ vui vẻ nhảy nhót vì được mặc quần áo mới, đi học mà không mang sách vở chi cả. Từ trước đến nay anh em chúng tôi chưa bao giờ được bước qua cái cống và không biết có chi bí mật sau cái cửa Thượng Tứ hùng vỹ đó cả. Nay thì mặc sức chạy nhảy giữa hai hàng cây mù u cao vời vợi xen lẫn dãy cây nhãn già sần sùi hai bên đường Hộ Thành. Đi qua Quốc Tử Giám và Tàng Cổ Viện đổ nát một phần, qua vườn Ba viên hoang phế để đến trường Thượng Tứ tạm thời nằm ngay ngã tư Anh Danh.

 

             Ba tôi dắt hai anh em đến lớp Năm,tức là lớp 1 bây giờ, gặp Thầy Luân là thầy cũ của ba tôi. Tóc thầy bạc phơ, mặt thầy hồng hào  nở nụ cười cởi mở , phúc hậụ. Trong khi ba tôi mặc âu phục quần dài ,áo sơ mi đi giày săng dan thì thầy mặc quốc phục áo dài đen,quần trắng nhưng không đội khăn đóng. Ba tôi đặt hai tay của hai anh em tôi vào trong hai tay thầy và nói:"  Dạ kính thưa Thầy, hôm nay con dẫn hai đứa con trai xin nhờ Thầy dạy dỗ như Thầy đã dạy dỗ con ngày trước vậy...Thiệt là điều vinh hạnh cho cả cha con chúng con đều được học với Thầy ". Thầy cười hiền :" Ừ ! Được rồi ! toa  để các cháu đây cho moạ"  Ba tôi  quay qua chúng tôi  dặn dò mấy lời và ra về, đến trưa khi mặt trời lên cao lại vào đón chúng tôi về nhà. Chuyện đi học của tôi tầm thường và đơn giản như vậy đó.

 

       Trường Thượng Tứ  lúc đó chia làm 2, từ lớp năm đến lớp ba thì ở bên đường Bộ Thị, lớp Nhì và lớp Nhất thì ở bên đường Bộ Tham , do ông Đốc Trinh  làm Hiệu Trưởng và vưà dạy lớp Nhì.  Bên cạnh là trường Trần quốc Toản do ông Đốc Thái làm Hiệu Trưởng.Nha Học Chánh thì do ông Ưng Quả, chồng của Nữ ca sĩ Minh Trang làm Giám Đốc.  Chẳng may, ông Ưng Quả bất thình lình qua đời vì bạo bệnh. Về sau Cô Minh Trang lại kết hôn với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước,phải chăng nhờ sắc tài đồng điệu mà chúng ta có được những bản nhạc hay,bất hủ, vượt thời gian mà Đêm Tàn Bến Ngự là một...

 

       Trong những năm học ở trường Thượng Tứ anh em chúng cũng có khá nhiều kỷ niệm. Thầy Luân hiền lành nhưng chúng tôi sợ thầy đến khiếp vía  vì thầy có cái thước vuông qúa lớn so với hai bàn tay nhỏ bé của chúng tôi.  Rứa mà mỗi khi chúng tôi phạm lỗi chi hoặc không thuộc bài, thầy bắt chụm 5 ngón tay lại như cái bánh ú rồi thấy lấy cái thước đánh trên 5 đầu ngón tay, đau thót cả tim.

 

       Mỗi buổi sáng khi vào lớp thầy đều bắt trò Lăng lên bảng đánh nhịp cho cả lớp hát bài Quốc Ca :" Này Thanh Niên ơi đứng lên đáp lời sông núi...." (Sau này đổi lại là : Này công dân ơi). Và cứ  rứa cho đến khi hè về.  Mùa tựu trường kế tiếp, cả lớp lại vào lớp 5 vơí Thầy Luân , khi nàoThầy mới kêu tên  mới biết đứa mô được lên lớp Tư đứa mô phải ở lại lớp 5. Anh em tôi được lên lớp, mừng qúa chỉ còn độ 5 đứa ở lại, trong đó có trò Lăng mập đánh nhịp....Hắn khóc qúa trời, sau đó tôi thấy Thầy cười bảo :" Trò Lăng ! lên bảng đánh nhịp cho cả lớp hát Quốc Ca cho hay cho đều cho rập ràng  thì  Thầy cho lên lớp". Rứa là tuy là mập mà hắn chạy như bay lên bục gỗ để ....thi hành nhiệm vụ mà lên lớp Tư.

 

       Lớp Tư học với Thầy Lê văn Đàng là em ruột thầy Hiệu Trưởng Lê văn Trinh. Thầy Đàng có đặc điểm là có cái mũi to mà đỏ như trái cà chuạ Thầy cũng thích mặc quốc phục quần trắng áo dài đen nhưng lại có tật hay chửi học trò. Có hôm 2 đứa học trò chửi nhau và đánh lộn. Một thằng khóc ,từ ngoài sân chạy vô lớp  mét thầ`y :" Dạ Thưa Thầy trò Bính  kêu tên cha con ra chửị"  Thầy hỏi trò Bính :" Mi có chửi cha hắn không ??? " Sợ Thầy qúa nên không dám chối: " Dạ có !" Thầy tát hai tai và hỏi :" Mụ Cô mi !  ai dạy mi  kêu tên cha hắn ra mà chưởi ???"" Có một lần  nọ Thầy đang đứng nói chuyện trên hành lang với thầy dạy lớp Ba, bỗng có tiếng hai đứa học trò đuổi nhau , thằng sau chạy đuổi theo thằng trước, vừa đuổi vưà chưởi :" Tổ cha mi Đàng ơi ! Tổ cha mi Đàng ". Thầy Đàng tức giận mặt đỏ tía tai nhìn xuống sân thì thấy thằng chạy trước là anh tôi cũng tên Đàng như Thầy. Khi hết giờ chơi, cả lớp im phăng phắc.  Thầy Đàng tuyên bố:" Kể từ đây trò Hồ Đăng Đàng tên là Hồ Đăng Đằng . Đứa mô kêu hắn tên Đàng tau đuổi cổ không cho đi học nữa" Rứa là ông anh tôi mang tên đằng cho đến khi lên trung học mới sửa lại tên cũ.

 

             Lớp Ba thầy Vĩnh Tháp dạy, thầy to cao và chuyên môn mặc âu phục thắt cà vạt. Lớp nhì thầy Đốc Trinh Hiệu Trưởng dạy, thầy không dữ nhưng nghe danh là đã sợ.  Thầy chuyên mặc áo dài trắng quần trắng và đi dạy khi mô cũng có một học trò đứng bên cạnh qụat hay pha nước trà cho Thầy. Thỉnh thoảng thầy cho học trò về nhà Thầy ở Cầu Đất để cô con gái Thầy dạy cho hát mấy bài hát tân nhạc yêu nước như Bạch Đằng Giang- như Bóng cờ Lau  hoặc là mấy bài hát vui như Chú Chuột Cắp Trứng, Em bé bán đậu phụng rang v.v.  Đến lớp Nhất học với Thầy Tiếu  thì chuyển ra điạ điểm trường Paul Bert cũ trước mặt nhà tôi và bây giờ gọi là trường Phú Hòa

 

Đặc biệt trong năm này lớp tôi có độc nhất một nàng con gái đẹp mắt sâu, tóc dài ngang vai tên là Lệ Minh làm cho lớp học sôi động và tươi mát hẳn lên vì chỉ có bọn nhóc chúng tôi là chẳng biết chi chứ trong lớp nhất cũng có vài thằng lớn hung ,vì chiến tranh nên học chậm, có thằng đã có vơ....Chị Lệ Minh có lẽ lớn hơn tôi vài tuổi ,sau năm đó là  tôi không hề gặp lại và nghe tin tức chi về chị hết. Nếu còn sống đến bây giờ thì nàng cũng là lão bà thất tuần cháu nội ngoại đầy đàn.       

 

 

2. Bà con lối xóm - Bạn bè thời xà lỏn

 

             Bà con  trong xóm đi tản cư về nhà quê để tránh bom đạn hay lúc đó còn gọi là "chạy giặc", lần lượt kéo nhau về lại nhà. Lúc đầu thiệt ra tôi chưa có bạn trong xóm , vì người hồi cư về lẻ tẻ, ai cũng lo sắp xếp việc dọn dẹp nhà cửa ,ổn định cuộc sống rồi lo cho con cái học hành. Trong xóm có một số người lạ mới đến ngụ cư, và  ngoài ra có một số người đi luôn vô chiến khu ,theo kháng chiến không trở về xóm cũ. Điển hình là ông Ba Điện ,chủ tiệm sửa xe hơi  mà chú Thí tôi đang học nghề, rồi tản cư theo gia đình ông thầy luôn. Về sau  mới biết là Chính phủ Việt Minh khi biết ông giỏi nghề sửa xe hơi nên đem toàn bộ gia đình ông vô chiến khu ở luôn để lo các vấn đề  liên quan đến máy móc ,đèn đóm. Ông này lại có cô con gái đẹp nên chú tôi mê mà đi theo luôn cho đến năm 1975 , đúng 30 năm mới trở về lại xóm Thượng Tứ , nhưng tiếc thay công lao xúc tép nuôi cò mà cò giò cò bay đường khác.

 

       Mãi cho đến một hai năm sau mới hình thành được một đám con nít trong xóm, cùng độ 9,10 tuổi làm quen nhau ,rủ đánh bi, đánh đáo,đánh căng, chọi nắp ken và đá banh làm bằng giấy báo, làm bằng mủ cây bút bút.

 

       Kể từ bờ hồ Thượng Tứ trở ra Thương Bạc thì có thằng Lu và thằng Cu , hai đứa cháu trai của ôn Mới, thợ mộc. Thiệt ra thì ôn Mới ở sau bờ hồ , nhưng lúc này chưa có người nhiều nên chưa thành xóm Bờ Hồ mà chỉ lèo tèo một hai túp lều dựng tạm.Ôn Mới có bộ râu trắng như cước, tóc  cũng bạc trắng xóa và mặt mũi  khá hồng hào trông giống như tiên ông trong truyện Tàu bằng tranh.Thằng Cu thì tròn như hột mít,thằng Lu thì hơi khỏng,ốm o . Hai đứa mà đi với nhau thì giống như Laurel và Hardy,hai chàng Ốm, Mập trong xinê.   Thằng Cu chẳng có chi đặc biệt ngoài chuyện hay cười vô duyên, nhưng  khi cười loài răng cời,lại  dễ thương. Thằng Lu thì lại có khiếu đá banh rất hay và bắn bi chai rất tài. Hắn cứ dụ dỗ bọn con nít chơi thứ chi cũng dở như tôi đánh bi ăn nắp ken, ăn cao su hay ăn hình  truyện Tarzan, Zéro, Mousquetaires...v.v và cuối cùng là hắn ăn hết ,ôm trọn ,khi mô hắn cũng lận  nắp ken với cao su vào trong quần xà lỏn thành 2, 3 cục u nơi bụng và cười hể hả ...

 

       Năm 1972, vừa giã từ chiến trường Chư Pao - Kontum  về làm việc ở Văn Phòng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2  được ít tháng, bỗng tôi nghe điện thoại :

       " A Lô ! Đại Úy Lư, Pháo Binh đây ! Cho tôi gặp Trung Úy Định, Văn Phòng Tư Lê.nh."

       Tôi trả lời :" Dạ thưa !Tôi đây ."

       Lập tức  nghe ở đầu giây tiếng chưởi thề:

       " Đ. Mạ mi chơ thưa với gởi ! Mi lên đây khi mô ??? Chừ làm to dữ hí !!!"

       " Xin lỗi Đại Úy, trong đời tôi không được hân hạnh quen biết với ông Đại Úy Lư nào cả ".

       " ĐM mi ! Chơ mi không nhớ thằng Lu ,cháu ôn Mới à ???"

       " Ừ Thằng Lu  bạn tau thì răng không nhớ, chơ tau không quen thằng đại úy chó chết  mô tên Lư cả"...

       " ĐM cái thằng gàn ni !  Thì lớn lên đi lính đi tráng mi cũng phải  cho tau đổi tên cho hay ho một chút chơ ! Vô lý để lính tráng hắn kêu là Đại Úy Lu ??? Cũng như thằng Cu  ,chừ là Giáo sư Cư.  Không lẽ  để học trò kêu là Giáo Sư Cu , Giáo Sư Dái ???". Rứa rồi cả hai đứa cười ha hả...

 

             Cái thằng bạn thứ hai là thằng Rô, con bác Nghè Đãi, mở tiệm bán thuốc Bắc hiệu Phước Thọ Đường, bác gái  mạ hắn thì chuyên cầm đồ, thượng vàng hạ cám.Tôi cứ thắc mắc mấy chục năm ni mà lại không có dịp hỏi hắn, vì nhỏ thì chưa biết mà lớn thì mỗi đứa đi một ngã ,40,50 năm ni có dịp gặp mô mà hỏi...Là thường thường ai đậu Tiến Sĩ mới được kêu là ông Nghè, rứa thì ba hắn đậu cái chi mà cũng cứ gọi là Ông Nghè ??? Để có dịp về Saigòn hỏi hắn cho ra lẽ mới khỏi ấm ức. Cũng trường hợp tương tự như vậy trong xóm tôi,ngã đầu Hậu Bổ cũng có bác Nghè Quế, thợ may, bạn của ba tôi cũng không biết có tiến sĩ không ??? Nếu có thì Tiến sĩ mô mà " diều giữ rứa ", răng mà có vẻ giống Tiến sĩ VN ở bên Mỹ ngày nay vậy???

       Cái thằng Rô ni lại có nhiều đặc điểm : một là cao "dứt" xóm ( nói về con nít), hai là mặt rỗ hoa , ba là ăn nói " vô duyên ỏm" nhưng có cái tội là khi mô ai nói chi cũng cười hề hề, bốn là lớn tồng ngồng mà cứ nhởn nhơ khắp xóm với cái quần xà lỏn , làm mấy o gánh nước , mấy em ma ri sến đỏ mặt dòm hoài. Khi mô gặp hắn mà muốn chọc hắn chưởi thì giả bộ hỏi :" Rô nì ! khi hồi mi hỏi chi tau rứa ???" . Ý chọc hắn là Rô hỏi rỗ  thì mặt hắn đỏ phừng :" Hỏi há ! Hỏi cái mả cha mi chơ hỏi mi làm chi ???"

 

       Chắc Bác Nghè cũng là tay mê bài Tây hạng nặng nên mới đặt tên con là Thằng Rô, Con Cơ, Con Bích . Không biết bác có đặt đứa mô tên Chuồn không chơ em của thằng Rô tên là Trần văn  Nghiã.  Rồi Rô đi dạy học, chừ đã về hưu ở Saigòn, Nghĩa học rất giỏi sau này là Giáo Sư Đại Học Saigòn , nhưng chẳng may bị bệnh nặng, nghe nói đã mất hơn mười 10 năm naỵ. Cô Bích thì tôi không biết, riêng cô Cơ là Giáo sư Trường Nữ Trung Học Pleiku, tôi có gặp trước 75. Cô Cơ kết hôn với Trưởng Ty Kinh Tế Pleiku, Phan Văn Quả , anh ruột của nhạc sĩ Miên đức Thắng (định cư ở Tây Đức, nhưng nay nghe nói đã về lại Saigòn). Riêng hai ông bà Cơ-Qủa thì hiện định cư ở vùng  Bắc thành Phố Seattle ( Tiểu bang Washington), cách nhà tôi độ 20 dặm...Rô sau này có thêm mấy em nữa mà tôi chỉ biết một thằng em tên là Mạnh mà sau này đi tù cải tạo về,  tôi  thường đi gác hằng đêm theo Đội Dân Phòng -Khu Phố Phú Hòa với hắn.

 

       Bên cạnh Phước Thọ Đường là tiệm sửa xe  đạp  Minh Lợi  do Ông Khả làm chủ, về sau theo sự phát triển  tiếnhóa  trở thành Tiệm Sửa Xe  Honda  và Vá Má xe Honda.Trong xóm Thượng Tứ chúng tôi, có 5 nhà nổi tiếng đông con ( chỉ tính còn sống) 10 đứa trở lên là :" Tiệm Minh Lợi 10  "em ", Nữ Họa Sĩ Maria Mộng Hoa 12 “em” , ông Đốc  Quyến  10 “em”, Tiệm ăn Lạc Thành 10 “em”,  riêng hiệu chụp ảnh  Phi Phước  lên tới 23  “em” vì hai vợ mà mụ mô cũng  một chục dư hết.  Nhà Minh Lợi con trai nhỏ hơn lứa chúng tôi và đặc biệt là có một người con gái " Vị Pháp Thiêu Thân" trong Mùa Pháp Nạn 63-66 tại Huế.....

 

Bác Khả đàn ông mà cũng có hàm răng đen như Mệ Nội tôi, thường ăn trầu, cái miệng nhổ nước trầu đỏ lòm, xoành xoạch. Nếu không phải là ngày đông tháng giá hoặc  có việc kỵ giỗ  chi  mà phải mặc  áo đen khăn đóng, thì bác cứ mai dô (maillot) trắng, quần sọt xanh, đi đôi dép Nhựt Bổn ,đi tới đi lui từ nhà cho tới tiệm bà Thông của tui, sau ni khi Bà Cô tôi trăm tuổi rồi thì lại tới tiệm may  của anh chị Mỹ Lệ đầu đường, gần Thương Bạc, nốc một hai cốc rượu thuốc nhỏ hai ba đồng,rồi lại về làm việc tiếp. Mà một ngày e cũng phải mấy cử như rứa lận....Và cũng thiệt là lạ, thằng con trai đầu nhỏ hơn tôi 5,6  tuổi chi đó, tên Ích, cũng giống ông y chang. Cũng ngày ngày tà tà làm một hai ly nhỏ rồi mới về gò tiếp má xe Honda . Chỉ có chú ni  và ông rễ là nối nghiệp cha, còn mấy chú em nhỏ hơn  tên Lam, tên Lộc thì lại đi dạy học hay đi làm cán bộ cho danh giá hơn.

 

       Cái nhà kế tiếp là Tiệm sửa xe hơi của Ông Ba Điện mà chú Thí của tôi tới học nghề, nhưng khi ông đi luôn  vô chiến khu, không trở về nữa thì tôi lại thấy có gia đình Bác Thân đến ở. Bác Thân cũng mở tiệm sửa xe Mobylette và Mô tô mà hồi ấy gọi là xe bình bịch, tên gọi theo  tiếng nổ .Tiệm không có tên hiệu nhưng cũng có khách vì hình như bác có tay nghề sửa xe  giỏi . Ngoài ra bác còn biết  cách mở ống khóa và mở tủ sắt nữa.

 

       Thực sự tôi không nhớ nổi gia đình bác Thân vô xóm năm nào và từ đâu lại, một phần vì gia đình này sống khá khép kín, ít giao du với bà con trong xóm, cho nên tôi cũng không biết hai bác có bao nhiêu con ,mấy trai mấy gái.  Đến nổi anh con trai đầu tôi cũng không nhớ tên, dù ba tôi có mang chiếc xe Motobécane  của Pháp, hay sau này chiếc xe  mô tô hiệu Java  của Tiệp Khắc, và  tôi cũng mang chiếc xe  gắn máy Ishia hay Vespa đến cho anh sửa  mấy lần. Cậu con trai  thứ  nhỏ hơn tôi vài tuổi tên Vận , học sau tôi vài năm nhưng tôi cũng hòan toàn mù tịt, không biết hắn học Tiểu học hay Trung học ở trường mô nữa....Chỉ có một cô em gái tên Trang, sau năm 1975 làm Y Tá ở Bệnh Viện Trung Ương Huế  thì tôi có gặp mấy lần khi ở tù Cải Tạo về, đi theo vợ buôn bán thuốc Tây "chui" ( nghĩa  là lậu thuế),mua qua bán lại của cô ta.  Đã lâu lắm rồi tôi nghe trong xóm đồn là nhà Bác Thân ai cũng thông minh, học giỏi nhờ.....ăn óc khỉ, tôi không có  ý kiến chi hết, nhưng khi đi ở tù về nghe vợ tôi kể lại chuyện hai vợ chồng anh Vận vượt biên thì tôi rất khâm phục...

 

       Nghe nói khi Huế "được” hay “bị” giải phóng' ( tuỳ người đối diện)  thì anh chị Vận trở nên điên dại, suốt ngày khóc lóc kêu la mất hết tài sản, con cái đói khát nheo nhóc. Chị Nhớ, vợ anh Vận áo quần bẩn thỉu ,bốc đất bốc cát ăn... Nào ai ngờ đâu, trong khi đó thì anh Vận đang lo tổ chức tàu bè để đào thoát. Đột nhiên, cả gia đình biến mất và vài tháng sau cả xóm vừa ngạc nhiên, vừa vui mừng và thán phục khi nghe cả gia đình anh chị đã  cập bến Tự Do.  Ba bốn năm trước đây ( năm 2000) , trong buổi lễ Vu Quy của con gái chị Mộng Hòan, con của Thầy Cô Maria  Mộng Hoa ở San José -Cali , tình cờ chúng tôi được gặp lại  anh chị Vận-Nhớ. Chúng tôi rất vui mừng khi được  nghe chị Mộng Hoàn  khoe là xóm Thượng Tứ  mình có một  triệu phú  trong ngành kinh doanh giặt ủi ở San Francisco ,giàu lòng nhân ái luôn luôn sẵn sàng cứu giúp đồng bào bất hạnh ở quê hương. Như mới đây , theo lời kêu gọi của cô bạn hàng xóm Thượng Tứ Mộng Hoàn, anh chị Vân- Nhớ ( bây giờ qua Mỹ tên Vân, không có dấu nặng) đã giúp  ba ngàn đô la  để tu sửa và xây dựng  như đào giếng, làm cầu tiêu, vườn hoa cho Làng Cùi dưới chân đèo Hải Vân. 

 

       Đóng kịch để lừa VC, tổ chức vượt biên thành công và bây giờ qua Mỹ trở thành một triệu phú thì qủa là một tài năng hiếm có. Không biết có phải vì ăn óc khỉ không, xin anh Vận cũng nên cho chúng tôi và bà con trong xóm biết để bắt chước với chớ.

 

       Bên cạnh nhà Bác Thân là Tiệm Giày Bùi Khán. Hai Bác Khán trai và Khán gái đều ốm o vì lo làm việc thức khuya dậy sớm đóng giày để nuôi con ăn học. Có thể   nói  giày dép chi lúc nhỏ của cả nhà bọn anh em tôi là do Tiệm Giày Bùi Khán đóng. Tôi nhớ nhất là mấy đôi giày quai tréo, rọ heo (cà rép)  hay  bốt ti đế da  của chúng tôi, Bác Khán đóng rất chắc chắn đi rất bền. Nhưng càng về sau tre tàn măng mọc, lớp trẻ đã lấn áp lớp già, Tiệm giày Tân Thành ở đầu đường của anh Duyên đã nổi tiếng khắp thành phố Huế những năm 60 và đè bẹp tiệm giày cổ xưa Bùi Khán. Tiệm giày Bùi Khán chỉ còn đóng giày cho những ông già.

 

       Theo như tôi nhớ thì anh con trai đầu là anh Châu hơi tàng tàng nhưng hai bác nhờ có tiền cũng ráng cưới vợ cho anh, bán buôn dưới chợ Đông Ba.  Rồi đến Bùi Minh là bạn của tôi dù học sau tôi hai lớp, rồi  thằng Bốn ,con Hoa. Thiệt ra Bốn chỉ là tên ở nhà còn đi học tên là Bùi  Sơn, nhưng lúc nhỏ hắn rất đau khổ và khóc nhiều lần với bọn trẻ ranh chúng tôi vì tên Bốn của hắn. Mấy thằng con nít trời đánh cứ đem tên hắn ra mà ghép với bất cứ chữ chi vần L  mà có dấu huyền rồi khi mô gặp hắn hoặc đi qua nhà hắn là rêu rao như Bốn Lầm , Bốn Liền, Bốn Làm .v.v... cho đến khi hắn khóc hay anh Châu hắn ra đuổi đánh, cả bọn  mới  bỏ chạy tứ tán. Sau này lớn lên đi lính và tử trận, thiệt tội nghiệp. Hắn khi mô cũng hiền khô ,nói năng thủng thẳng như anh Bùi Minh của hắn vậỵ

 

       Xóm tôi có hai thằng nổi tiếng có ghẻ ruồi là thằng Minh và thằng An ( Cháu nội bà cô Thông của  tôi), hai thằng này rất thân nhau ,đi mô cũng đi với nhau vì  đồng điệu và cùng hoà tấu một cung đàn gải ghẻ...Thằng Minh sau này thi đậu vào Trường Bưu Điện Saigòn, cưới vợ là một người đẹp tên Tước cùng trường và là con của ông chủ Tiệm vàng An Phú ( Bác Nguyễn thắng Ngữ cũng gốc Kim Long). Đây là một cặp vợ chồng đặc biệt ,dễ thương vô cùng mà tôi cần phải kể ra đây cho mọi người đều biết như là một lời cảm tạ của riêng tôi

 

        Chúng tôi là bạn bè hàng xóm từ thuở nhỏ, khi lớn lên tôi đi dạy học rồi vào Quân Đội lưu lạc khắp 4 vùng chiến thuật,  còn hai vợ chồng là công chức Bưu Điện ở Saigòn nên rất ít gặp nhau, thỉnh thoảng đôi lần khi tôi có dịp về Saigon ghé thăm.

 

       Tôi có cô em họ lầm lỡ, mang thai khi mới 17, 18 tuổi.  Một mình âm thầm vào Saigon vừa tìm  nơi trú ngụ chờ ngày sinh nở, vừa tìm trường học nghề để về lại Huế làm kế sinh nhai mà nuôi con sau khi sinh nở.Toàn cả những chuyện khó  giải  quyết, chuyện tìm trường học thì tôi  giúp được còn chuyện nhà ở để dưỡng thai thì làm răng ??? Ngay chính bản thân tôi chưa vợ cũng không có chỗ ở nhất đi.nh. Thế mà khi nghe công chuyện thì cả hai vợ chồng Minh-Tước đã vui vẻ nhận lời chứa chấp cô em họ tôi.  Mới nghe qua tưởng tầm thường nhưng đây là một vấn đề đối với người Huế, rất nghiêm trọng ,rất lớn lao. Trừ khi  là anh chị em ruột thịt ra, ít ai muốn chứa một người đàn bà sắp sinh nở trong nhà, sợ xui. Người Huế khó lắm . Rứa mà anh chị Minh đã vui vẻ chứa chấp cho đến khi sinh nở mẹ tròn con vuông , cho đến khi toàn bộ  gia đình tôi chạy giặc vào Saigòn thì em mới về ở chung với Mệ Nội tôi và các anh em tôi. Phải nói là hai vợ chồng Minh-Tước có tâm Bồ Tát.

 

       Một chuyện khác nữa để chứng tỏ tấm lòng qúy báu của cặp vợ chồng hiếm có này. Đầu năm 1968, tình hình biến động dữ dội , tôi được biệt phái qua Cảnh Sát Dã Chiến, đầu năm 1969, tôi phải trở về lại Quân Đội. Tôi từ giã Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến Bình Dương và đưa người vợ trẻ mới cưới  về lại Huế, nương nhờ cha mẹ hai bên.

 

       Tôi một mình lang thang ở Saigòn chờ đi đơn vị mới , không biết ở vùng 2,3,4 nào đây ??? Tình cờ gặp hai vợ chồng Minh-Tước, bạn hỏi vợ chồng mới cưới sao lang thang một mình , vợ mô rồi ??? Biết công chuyện, vợ chồng bạn ta nói hãy đánh điên tín ra Huế bảo vợ vô gấp ở nhà anh chị Minh chờ  cho đến khi chồng đi đơn vị mới. Đây cũng là một điều rất đặc biệt đối với người Huế, không ai chịu  cho  hai  vợ chồng mới cưới ở trong nhà ,ô uế, họ cũng sợ xui.  Nhưng hai  bạn ta, Minh Tước,  không bao giờ ngán điều đó và nhờ rứa mà hai chúng tôi lại được hưởng tuần trăng mật thứ hai trong đời trên căn gác hẹp xóm Bàn Cờ nóng như lửa đổ. Cứ mỗi lần hai vợ chồng, có ai muốn lên gác để việc chi đó,  là vừa cười vừa la lên : “ Định ơi ! ngơi nghỉ một chút cho lên phơi đồ  hay lấy đồ cái nghe !" . Hai bạn chừ đã về hưu , sau hai năm đi thăm con ở Mỹ, tính chuyện ở lại Mỹ không xong, hai bạn đã trở về lại VN đưỡng già cũng trong Khu Bàn Cờ. Cám ơn hai bạn. Hẹn sẽ về thăm hai tấm lòng sáng trưng và nồng ấm tình người. 

 

 

 3. Nhà Thành Nội- Nhà Thượng Tứ

 

Cái nhà mở tiệm ăn Lạc Thành ,ba mạ tôi thuê của ông bà La Tường Thái  từ năm 1940 hay 1941 (?). Phần nhiều nhà cửa dãy phố Thượng Tứ này là của chủ nhân người Tàu ở dưới đường Trần Hưng Đạọ.  Càng ngày ,công việc bán buôn khấm khá, con cái càng đông, càng lớn, người ăn kẻ ở trong nhà càng nhiều . Ngày trước , phần lớn các người giúp việc, bồi bếp đều ở lại trong tiệm  ăn vừa là nhà ở...Họ ngủ lăn ngủ lóc trên 5, 3 cái ghế đâu lại , người thì nằm trên cái bàn đá, trên bàn ăn,  người thì  kê một vài tấm ván cho êm mà nằm trên đống cũi chẻ sẵn để đun  bếp, nghĩa là ngủ lăn ngủ lóc đâu đó cho qua đêm,sau một ngày làm việc thở không ra hơi.  Khi đã nằm xuống là ngủ như chết ngáy khò khò, chẳng khác chi bợm say rượu, muỗi bay vo ve mà chẳng có mùng mền chi hết, thỉnh thoảng bị cắn đau qúa thì cũng quơ tay đánh bép một cái trong vô thức rồi tiếp tục ngáy...khò khò như cũ.

 

        Ba mạ tôi có mua một căn biệt thự bên cạnh nhà thầy Ngô Ganh (nhạc sĩ) ở đầu đường Hoà Bình (song song với đường Mã Khái, hướng về phía Canh Nông, Tây Lộc) trong Thành Nội cho gia đình ở sau một ngày làm việc nhọc nhằn . Nhưng từ đó không hiểu vì lý do gì, Ba tôi bị bệnh lãng tai trái trầm trọng và điếc hẳn luôn  cho đến bây giờ,hơn 50 năm nay....Lại thêm trận lụt dữ dội năm 1953, phá sập cống Thượng Tứ, căn biệt thự ngập gần tới nóc, mấy cha con ngồi trên véranda chờ mạ tôi thuê đò liều mình vượt  qua vùng   nước xoáy như thác đổ , băng qua cửa Thượng Tứ để vào Thành Nội  cứu mấy cha con tôi, rồi chèo lên Cầu Đất chở Mệ Ngoại, xuống Tịnh Tâm chở mấy người bà con bên Ngoại của Mạ tôi  là Mệ Bửu Diêu (Giám Thị Trường Nguyễn Tri Phương sau là Giám thị Trường Phan Chu Trinh Đà Nẳng) và gia đình...tất cả đều tạm trú trên căn gác lửng của  tiệm ăn Lạc Thành ngày đó ít hôm, chờ nước rút.

 

    Rồi Hiệp Định Genève năm 1954 chia cắt đất nước làm hai ,tình hình an ninh lúc đó  hơi lộn xộn, nhà tôi lại ở trong một nơi khá hẻo lánh.  Một đêm  mưa gió kia,  có hai người đàn ông đội mũ phớt ( fautre) , mặc áo dạ dài khoác bên ngoài (pardesus) như các nhân viên mật thám  hay các tài tử xi nê trong các phim trinh thám thời đó, mang súng ống vào nhà gõ cửa :"  Có Ông Lạc Thành ở trong nhà không ??? Mở cửa ! Tôi cần thuê xe đi Đà Nẳng ".  Trong bóng tối mạ tôi run cầm cập nhìn ra thấy 2 người đàn ông cầm 2 khẩu  súng tiểu liên (Thompson  ???), biết là dân ăn cướp rồi,sợ qúa, bò vào cầu tiêu đưa tay rựt bức đôi bông tai hạt xoàn vất vào ảng xi măng đựng  nước dội cầu tiêu, máu chảy ròng ròng mà không biết .Chưa biết tính răng thì tiếng đập cửa và tiếng người kia lại vang lên đe dọa một lần nữa . May qúa, bà U ( bà vú người Bắc) nằm ngủ gần cửa sổ , nghe mơ mơ màng màng nên nói mớ :" Không có ai ở đây cả ! Ông chủ bà chủ ở ngoài Thượng Tứ hết rồị" và tiếp tục ngáy khò khò  . Hai người đàn ông nhìn vào cái ga ra trống không, bàn tính nhau một hồi rồi bỏ đi.  Cũng may là Ba tôi tối đó lái xe đưa  mạ con tôi từ Thượng Tứ vào và nói có hẹn với bạn bè thương gia đi ăn để bàn bạc công chuyện làm ăn chi đó nên không về nhà. Ngày hôm sau ba mạ tôi treo bảng bán căn biệt thự và ra lại xóm Thượng Tứ mua căn phố của Khách sạn Trường Xuân làm chỗ ở cho gia đình và con cái học hành. Năm 1955-56 đập ra xây lại thành 3 từng lầu cao nhứt xóm hồi đó.

 

Đang tuổi lớn, học trung học, bạn bè đông. Đêm nào nhà tôi cũng có bạn bè đến ở lại cùng nhau học hành. Mạ tôi tính hiếu khách lại thương và làm ăn khá nên tối nào cũng tẩm bổ đủ thứ cho con và bạn của con. Không thiếu thức chi, nào chè, nào cháo, cam, táo, nhãn.v.v   ăn ăn uống uống, sì sà sì sụp suốt đêm.. Nhất là những ngày tháng gần thi Đít lôm (Diplôme - Trung Học Đệ Nhất Cấp),Tú Tài 1, rồi Tú Tài 2 nhà tôi không khi nào thiếu bạn và trong số bạn tôi, ngoài chuyện mến tôi hoặc muốn tới nhà tôi để học thi còn có ý đồ khác nữạ. Đó là để có cơ hội nhìn ngắm (dù là cách không) 2 cô láng giềng xinh đẹp của tôi ở trước mặt nhà, bên kia đường. Nhà tôi có cái sân thượng trên tầng ba, ban đêm đứng trên đó mà nhìn xuống hai căn phòng thiếu nữ này thì thật là tuyệt, mà không phải nhìn trộm mô nghe. Nó hiển hiện ra trước mắt ,có ai dấu diếm chi mô mà phải nhìn trộm ???. Người ta học bài, người ta chải tóc, ăn me, ăn cốc, nhất cử nhất động, kể cả lời nói vui đùa giữa hai chị em hay những câu hát vu vơ bất chợt giữa đêm khuya thanh vắng cũng làm bao chàng ngất ngây...Có cái lợi điểm là sân thượng thì tối mà hai căn phòng nhà trước mặt thì dù cho ánh đèn vàng hay đèn néon trắng sáng sau này thì tất cả mọi hình ảnh đều diễn ra rõ ràng trước mắt chúng tôi như một cuốn phim chiếu chậm trên màn ảnh xinê. 

 

Còn ban ngày thì balcon nhà tôi cũng là nơi để hai ba chàng trai mới lớn, mấy cậu học trò Quốc Học trưa chiều đứng ngắm các cô nữ sinh Đồng Khánh, Bán Công, Việt Hương, Thành Nhân..v.v đi học về phải vô cửa Thượng Tứ, vì nhà ở Thượng Thành hoặc Âm Hồn ,Tịnh Tâm, Cầu Đất ,Tây Linh, Tây Lộc...v.v.. Không biết bao nhiêu là người đẹp ở trong thành mà tôi còn nhớ, có chị lớn hơn chúng tôi vài tuổi, có cô đồng trang lứa, một ít nhỏ hơn, học sau một vài năm ....và hồi đó tôi thấy ai cũng đẹp cả, mà theo ý chủ quan của tôi lại đẹp hơn các "thế hệ" ( lứa) về sau rất nhiều.

 

       Tôi xin kể tên  một vài khuôn mặt xinh đẹp rực rỡ mà  đến nay vẫn còn in đậm trong trí nhớ nhạt nhòa và rất lộn xộn của tôi. Mà các người đẹp thì muôn đời không có tuổi nên những người đẹp này cũng không được kể theo thứ tự tuổi tác hay thời gian chi cả....

 

Chà cái xóm Cầu Đất thiệt là nhiều người đẹp : Chị Mộng Liên, hai chị em Ánh Nguyê.t-Thủy Tiên, rồi  Kim Trâm,  Kim Liên, Võ thị Thương, Như  Hảo, Như Ngân, và ai nữa hè ???

  ai còn nhớ  2 chị em  cô Tây Lai Madeleine và Hélène ở Cửa Sập không ???

 

Ba chị em Phương Anh- Phương Vân- Phương Linh ở xóm Mã Khái.

 

Xóm Âm Hồn thì hai chị em  Quỳnh Hoa- Hỷ Nguyên, Thu Sương - Tương Giang, Tinh Châu, Hoắc Hương-Nhụ Hương, Liên Hà, Mai Liên, Tuyết Anh, Đào -Lựu, Hiệp Thành, Mộng Hoàn ( nhỏ)...   v.v  và v.v.......

 

Kể răng  cho hết tên người đẹp Nội Thành ngày ngày đạp xe qua đường Thượng Tứ  những ngày xa xưa  thanh bình và mơ mộng đó hè  ???